Thành tựu

24/06/2013

1. Kết quả nghiên cứu khoa học

Nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ chính trị hàng đầu, đồng thời là nhiệm vụ trọng tâm, cơ bản của đơn vị trong suốt quá trình xây dựng và phát triển. Trong 20 năm qua, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã chủ trì, thực hiện và tham gia có kết quả hàng trăm đề tài, dự án nghiên cứu khoa học cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu chính sách, tư vấn và dịch vụ tư vấn khoa học; các dự án, chương trình hợp tác quốc tế và hợp tác khoa học với các cơ quan nhà nước, bộ, ngành, địa phương trong cả nước.

1.1. Giai đoạn từ năm 1993 đến năm 2004

+ Về đề tài cấp Nhà nước:

Viện Nghiên cứu Châu Âu đã có những đóng góp trong việc phân tích làm sáng tỏ nguyên nhân và hậu quả của sự sụp đổ hệ thống xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa trên thực tế ở Liên Xô và các nước Đông Âu trong những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90. Một đóng góp khác của các nhà khoa học của Viện thể hiện qua sự tham gia thực hiện các đề tài cấp Nhà nước ở giai đoạn này, trong đó phân tích, đánh giá thực trạng và dự báo triển vọng phát triển của Liên hiệp Châu Âu và của Liên bang Nga trong thập niên đầu của thế kỷ XXI[1]. Ngoài ra, thông qua việc thực hiện đề tài “Hợp tác Á - Âu và vai trò của Việt Nam”1, các nhà khoa học, nòng cốt là cán bộ của Viện đã góp phần làm rõ những thành tựu chính của ASEM kể từ khi hình thành thể chế này; phân tích, đánh giá những cơ hội và thách thức của ASEM trong những năm đầu thế kỷ XXI, cũng như quá trình Việt Nam tham gia ASEM từ năm 1996 đến 2004.

+ Về các đề tài cấp Bộ:

Trong thời gian 10 năm đầu hoạt động, các nhà khoa học của Viện đã hoàn thành nhiều đề tài cấp Bộ, trong đó điển hình là các đề tài như “Liên bang Nga trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương thời kỳ hậu chiến tranh lạnh”[2]; “Tư nhân hoá trong tiến trình cải cách kinh tế ở Liên bang Nga và một số nước Đông Âu”[3]; “Chính sách kinh tế đối ngoại của Liên bang Nga trong quá trình chuyển đổi kinh tế hiện nay”[4]; “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga: lịch sử, hiện trạng và triển vọng”; “Quan hệ EU-ASEAN trong xu hướng toàn cầu hoá và khu vực hoá trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI”[5]; “Quan hệ EU - Nhật Bản”; “Thúc đẩy quan hệ thương mại - đầu tư giữa Liên hiệp Châu Âu và Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XXI”[6]; “Thực trạng và triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu trong những năm đầu của thế kỷ XXI”[7]; “Quan hệ Việt Nam - Liên bang Nga: lịch sử, hiện trạng và triển vọng”1; “Liên hiệp Châu Âu trong thương mại toàn cầu”2; “Chuyển đổi kinh tế ở Liên bang Nga”3. “Hội nhập kinh tế vào Liên minh Châu Âu: cơ hội và thách thức của các nước Đông Âu”4.

Qua việc thực hiện những đề tài trên, các nhà khoa học của Viện đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản và cấp bách như:

+ Trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh kết thúc, mặc dù Liên bang Nga giai đoạn này thực hiện chính sách đối ngoại hướng về phương Tây (Mỹ, Tây Âu), nhưng ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, trong đó có Đông Nam Á và Việt Nam, vẫn không xem nhẹ vai trò cường quốc Âu - Á của Liên bang Nga.

+ Tư nhân hóa là một trong những nội dung quan trọng của cải cách kinh tế trong giai đoạn này ở Liên bang Nga và một số nước Đông Âu. Việc sớm hình thành và coi trọng phát triển khu vực kinh tế tư nhân gợi mở cho Việt Nam những điều cần tiến hành khi bắt đầu thực hiện chương trình cổ phần hóa trong cải cách khu vực kinh tế quốc doanh.

+ Quan hệ EU - ASEAN giai đoạn này đang trong tiến trình chuyển hoá từ quan hệ “cho - nhận” sang quan hệ đối tác bình đẳng. Trong chiến lược mới đối với Châu Á của EU đã khẳng định vai trò quan trọng của ASEAN. Ngoài ra, cơ chế hợp tác liên khu vực mới hình thành - ASEM gồm 10 nước Châu Á và 15 nước EU với vai trò nòng cốt là các nước ASEAN cũng đã được nghiên cứu của Viện phân tích.

+ Các nhà khoa học của Viện đã phân tích và làm rõ chính sách kinh tế đối ngoại của Liên bang Nga trong quá trình chuyển đổi và xu hướng quay trở lại với các đối tác truyền thống ở khu vực Đông Nam Á của nước Nga; đưa ra những kết luận về quan hệ thương mại của Liên bang Nga với Việt Nam với tư cách là một quốc gia có vai trò quan trọng trong khu vực này.

+ Quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường và hội nhập khu vực của các nước Đông Âu như Ba Lan, Cộng hòa Séc, Hungary… gợi mở những kinh nghiệm nhất định cho Việt Nam trong quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập hiệu quả vào ASEAN. Trung tâm Nghiên cứu Châu Âu đã kết hợp với Trường Đại học Kinh tế Quốc gia Vacsava, Ba Lan tiến hành nghiên cứu và năm 2000 công bố cuốn sách Cải cách kinh tế ở Ba Lan và Việt Nam: thành tựu và những vấn đề do TS. Nguyễn Quang Thuấn và TS. Nguyễn Trọng Hậu đồng chủ biên.

+ Thông qua nhiều đề tài cấp Bộ của giai đoạn này, các nhà khoa học của Viện đã góp phần tổng quan các xu thế vận động phát triển của thế giới và khu vực trong bối cảnh gia tăng toàn cầu hóa kinh tế và khu vực hóa; xu thế hợp tác và cạnh tranh trong quá trình hình thành đa cực hóa với sự trỗi dậy của Châu Á, mối tương quan giữa các trung tâm quyền lực thế giới, những thách thức và cơ hội đối với các tổ chức khu vực EU, CIS cũng như các quốc gia Châu Âu và Việt Nam. Thông qua chương trình nghiên cứu Châu Âu tại Việt Nam giai đoạn 2001-2004, Viện đã phổ cập những kiến thức về Liên minh Châu Âu và quan hệ Việt Nam - Liên hiệp Châu Âu trên các phương diện kinh tế - chính trị, thương mại - đầu tư, tài chính - tiền tệ; đặc biệt là có những phân tích, đánh giá về triển vọng của một EU mở rộng hơn, mạnh hơn trong thế kỷ XXI và quan hệ Việt Nam - EU trong bối cảnh gia tăng khu vực hoá, toàn cầu hoá và yêu cầu hội nhập quốc tế của nước ta. Việc nghiên cứu các nền kinh tế chuyển đổi Nga, các nước SNG và Đông Âu đã giúp cho Viện có những đóng góp thiết thực về lý luận và thực tiễn cho quá trình chuyển đổi kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực của Việt Nam cũng như thúc đẩy quan hệ hợp tác với các đối tác truyền thống này trong giai đoạn Việt Nam tăng cường đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, mở cửa hội nhập.

- Về các đề tài cấp cơ sở:

Trong giai đoạn này, các cán bộ nghiên cứu của Viện đã triển khai các đề tài cấp cơ sở với mục tiêu hình thành các lĩnh vực nghiên cứu chuyên sâu của mỗi cá nhân. Trong số các đề tài cấp cơ sở có thể kể đến các nghiên cứu về “Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga với khu vực châu Á - Thái Bình Dương sau Chiến tranh Lạnh”, “Một số vấn đề về quan hệ kinh tế đối ngoại của các nước Đông Âu trong điều kiện cải cách kinh tế thị trường hiện nay”, “Quan hệ kinh tế, thương mại Việt Nam - Liên bang Nga: những giải pháp thúc đẩy mối quan hệ truyền thống Việt - Nga”, “Cải cách kinh tế thị trường ở Ba Lan - xu hướng hội nhập vào Liên minh Châu Âu”.

1.2. Giai đoạn từ năm 2005 đến nay (từ khi Viện Nghiên cứu Châu Âu được thành lập)

Trong giai đoạn từ năm 2005 đến nay, Viện Nghiên cứu Châu Âu tiếp tục tham gia và chủ trì thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học các cấp. Cùng với đó, Viện đã có những đóng góp nhất định về khoa học, làm sáng tỏ nhiều vấn đề có ý nghĩa quan trọng cả về mặt lý luận và thực tiễn.

- Về đề tài cấp Nhà nước, Nghị định thư, đề tài do Quỹ Nafosted tài trợ:

Có thể nói, từ năm 2005 đến nay là giai đoạn nở rộ và phát triển hoạt động khoa học của Viện trong việc tìm kiếm và thực hiện các đề tài cấp Nhà nước, nhiệm vụ Nghị định thư và đề tài do Quỹ Khoa học và Công nghệ quốc gia (Nafosted) tài trợ. 

Từ năm 2005 đến nay, Viện đã và đang chủ trì thực hiện ba đề tài cấp Nhà nước. Đó là đề tài KX 01.04/06-10 “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam - Liên minh Châu Âu”1; đề tài KX 02.13/06-10 “Mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội của một số nước phát triển Châu Âu - kinh nghiệm và ý nghĩa đối với Việt Nam”2 và đề tài KX 01.09/11-15 “Khủng hoảng nợ công ở một số nước Liên minh Châu Âu (EU) và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”3.

Đối với nhiệm vụ hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ theo chương trình Nghị định thư, Viện đã và đang chủ trì thực hiện 4 nhiệm vụ, bao gồm: đề tài Nghị định thư Việt - Nga “Quan hệ Nga - ASEAN trong những thập niên đầu thế kỷ XXI”4; đề tài Nghị định thư Việt Nam - Ba Lan “Trí thức người Việt tại một số nước Đông Âu: thực trạng và vai trò trong bối cảnh mới”1; đề tài Nghị định thư Việt Nam - Ucraina “Quan hệ Việt Nam - Ucraina trong bối cảnh quốc tế mới”2; đề tài Nghị định thư Việt Nam - Hungary “Những tác động của toàn cầu hóa tới một số nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu và Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI”3.

Ngoài ra, kể từ khi Quỹ Nafosted được thành lập và hoạt động (từ năm 2008), Viện đã được Quỹ Nafosted tài trợ kinh phí thực hiện ba đề tài. Đề tài “Thúc đẩy hợp tác Việt Nam - EU trong triển khai cơ chế phát triển sạch (CDM) ở Việt Nam  giai đoạn 2010 - 2020”4 do Quỹ Phát triển khoa học công nghệ và Quỹ Flander (Bỉ) tài trợ. Hai đề tài khác nghiên cứu về “Hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”5 và “Nghiên cứu so sánh mô hình liên kết khu vực - kinh nghiệm cho ASEAN”6.

Thông qua việc chủ trì và thực hiện các đề tài kể trên, Viện Nghiên cứu Châu Âu có những đóng góp nhất định cho khoa học trên các khía cạnh sau:

+ Phân tích và làm rõ bối cảnh quốc tế và những nhân tố tác động đến quan hệ Nga - ASEAN trong giai đoạn 2006 - 2010 và định hướng 2020; đánh giá thực trạng quan hệ Nga - ASEAN từ năm 1991 đến 2005 và từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển quan hệ Nga - ASEAN đến năm 2020, nâng cao vai trò của Việt Nam trong quan hệ Nga - ASEAN. Bên cạnh giải pháp kiến nghị chủ đạo là kiện toàn hệ thống pháp lý, củng cố các cuộc tiếp xúc cấp cao, đề tài còn đưa ra một số kiến nghị về tăng cường hợp tác thương mại với việc duy trì cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giữa hai phía một cách hợp lý, tăng cường hợp tác quân sự trên cơ sở hòa bình và phát triển, phát huy vai trò của Việt Nam là cầu nối trong thúc đẩy hợp tác Nga - ASEAN, và tăng cường hợp tác giữa doanh nghiệp của hai phía.

+ Phân tích và làm rõ thực trạng của trí thức người Việt Nam tại các nước Đông Âu hiện nay, trong đó nhấn mạnh những thuận lợi và khó khăn của cộng đồng này. Đồng thời, nghiên cứu quá trình hội nhập Liên minh Châu Âu của các nước Đông Âu; sự điều chỉnh chính sách và pháp luật, trong đó có chính sách nhập cư và tác động của điều chỉnh chính sách, pháp luật của các nước này đến quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam nói chung và đến cộng đồng người Việt, trong đó có trí thức người Việt nói riêng. Từ những nghiên cứu kể trên, một số kiến nghị đã được đề xuất, tập trung vào các nhóm giải pháp là: phát huy vai trò đội ngũ trí thức người Việt ở Đông Âu trong việc củng cố, phát triển cộng đồng người Việt tại những nước này; phát huy vai trò cầu nối về kinh tế, thương mại, hợp tác lao động; phát huy vai trò cầu nối về văn hóa, giáo dục và công nghệ; thúc đẩy những cơ hội đóng góp trực tiếp cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa trong nước.

+ Phân tích và làm rõ bối cảnh quốc tế, khu vực và những nhân tố tác động đến quan hệ Việt Nam - Ucraina, vị trí của mối quan hệ này trong chiến lược phát triển giữa Việt Nam và Ucraina. Đồng thời, nghiên cứu của Viện đã phân tích, đánh giá thực trạng quan hệ Việt Nam - Ucraina trên tất cả các mặt trong thời gian từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, đặc biệt là giai đoạn 2001-2010, bao gồm những thành tựu đã đạt được, những vấn đề đặt ra hiện nay và nguyên nhân của chúng. Từ đó đưa ra định hướng và giải pháp phát triển quan hệ hợp tác toàn diện Việt Nam - Ucraina cho giai đoạn 2011-2020, trong đó các giải pháp chủ yếu là: tiếp tục thúc đẩy quan hệ chính trị, ngoại giao giữa hai nước, đặc biệt là các đoàn cấp cao; xây dựng một kế hoạch tổng thể nhằm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực; tăng cường hiểu biết, nắm bắt cơ hội giữa hai nước; đẩy mạnh hợp tác kinh tế, nâng kim ngạch thương mại giữa hai nước; tạo những điều kiện và phương tiện thuận lợi để thúc đẩy quan hệ song phương đi vào thực chất hơn.

+ Phân tích và đánh giá thực trạng phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam - EU giai đoạn từ sau năm 1995, làm rõ cơ sở lý luận và xây dựng các luận cứ khoa học - thực tiễn cho việc hoạch định chiến lược phát triển hợp tác kinh tế của Việt Nam với EU đến năm 2015, đồng thời đưa ra những khuyến nghị về chiến lược và các giải pháp phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam với EU đến năm 2015, tập trung vào những nhóm giải pháp Việt Nam cần đẩy mạnh thực hiện như: cải thiện môi trường kinh doanh; ổn định kinh tế vĩ mô; xây dựng chiến lược thâm nhập thị trường và đẩy mạnh công tác marketing xuất khẩu; phát triển nguồn nhân lực để nâng cao khả năng xuất khẩu và tiếp nhận vốn đầu tư.

+ Nghiên cứu tổng quan về mô hình phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội chung ở Châu Âu; phân tích bản chất, đặc điểm, các điều kiện hình thành, thành tựu và những vấn đề đặt ra của các mô hình phát triển xã hội điển hình ở một số nước thuộc Liên minh Châu Âu, trong đó tập trung vào 4 mô hình đặc trưng là mô hình Bắc Âu, mô hình Anglo - Saxon, mô hình lục địa và mô hình Địa Trung Hải. Từ những phân tích đó, Viện đã tổng kết các bài học trong xây dựng mô hình xã hội Châu Âu, các mô hình điển hình và kinh nghiệm quản lý phát triển xã hội của các nước EU, đồng thời đề xuất những kinh nghiệm Việt Nam có thể tham khảo áp dụng. Những đề xuất về một số định hướng hoàn thiện mô hình phát triển xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020 bao gồm: Đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, thực hiện mô hình phát triển theo chiều sâu chủ yếu dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao; Tạo cơ hội cho mọi loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tiếp cận bình đẳng các yếu tố “đầu vào” của sản xuất kinh doanh; Thực hiện nhất quán nguyên tắc phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào quá trình sản xuất kinh doanh; Kết hợp hài hòa giữa việc phân phối lại thông qua hệ thống phúc lợi xã hội với hệ thống an sinh xã hội; Đẩy mạnh triển khai các chương trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với giải quyết việc làm; Thực hiện có hiệu quả chương trình xóa đói giảm nghèo bền vững…

Hầu hết các đề tài nói trên đều đã nghiệm thu đúng thời hạn, đạt kết quả khá và xuất sắc.

Các đề tài “Những tác động của toàn cầu hóa tới quá trình phát triển của một số nền kinh tế chuyển đổi Đông Âu và Việt Nam”; “Hợp tác Việt Nam - Liên minh Châu Âu trong cơ chế phát triển sạch (CDM) giai đoạn 2011-2020”; “Hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU giai đoạn hậu khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” và “Nghiên cứu so sánh các mô hình liên kết khu vực - kinh nghiệm cho ASEAN” dự kiến đóng góp vào sự phát triển của khoa học ở một số khía cạnh như:

+ Phân tích và làm rõ kinh nghiệm tổ chức quản lý, triển khai các hoạt động cơ chế phát triển sạch CDM của EU và một số nước thành viên theo cơ chế thị trường kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước; Phân tích chiến lược triển khai cơ chế phát triển sạch của EU ở Châu Á, những kinh nghiệm trong hợp tác quốc tế về cơ chế phát triển sạch giữa EU với một số nước Châu Á; Đánh giá chính sách vĩ mô của Việt Nam về lĩnh vực cơ chế phát triển sạch, cũng như tình hình triển khai và hiệu quả của việc triển khai thực hiện cơ chế phát triển sạch ở một số doanh nghiệp ở Việt Nam. Từ đó làm rõ những cơ hội, thách thức và khuyến nghị các giải pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác về cơ chế phát triển sạch giữa EU và Việt Nam giai đoạn 2010-2020, trong đó những giải pháp chủ yếu là: EU hỗ trợ Việt Nam xây dựng và triển khai chiến lược ứng phó biến đối khí hậu; Việt Nam xúc tiến thu hút đầu tư và chuyển giao công nghệ từ EU với các dự án tham gia cơ chế phát triển sạch; Tăng cường hợp tác, đàm phán song phương với EU về thương mại giảm phát thải cho các dự án CDM đăng ký từ sau ngày 31/12/2012.

+ Nghiên cứu làm rõ những tác động của toàn cầu hóa tới quá trình phát triển của Việt Nam và của một số nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu như Hungary, Ba Lan, Cộng hòa Séc; qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm, khuyến nghị chính sách trong việc phát huy tác động tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của toàn cầu hóa đối với Việt Nam và Hungary, Ba Lan, Séc. Đề tài sẽ đưa ra những khuyến nghị nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác giữa các nhà khoa học, các viện nghiên cứu của Việt Nam với các nước này: Tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại cởi mở và tích cực; Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng nhanh chóng kết cấu hạ tầng; Giải quyết khẩn trương trên cơ sở khoa học những vấn đề dân số, tài nguyên, môi trường; Giữ vững bản sắc dân tộc, xây dựng lối sống lành mạnh và tiến bộ; Thực hiện các giải pháp đồng bộ để tiếp nhận dòng FDI có chất lượng và giải quyết việc làm cho người lao động.

+ Phân tích và làm rõ những ưu điểm và hạn chế của hệ thống an sinh xã hội của một số nước EU sau khủng hoảng (2008-2009); Tìm hiểu những phản ứng chính sách của các chính phủ các nước thuộc EU để giải quyết các vấn đề an sinh xã hội trong giai đoạn hậu khủng hoảng; Qua kinh nghiệm của EU, Viện đề xuất các giải pháp có thể áp dụng hoặc cần phải tránh trong quá trình hoàn hiện hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam đến năm 2020. Những kiến nghị chủ yếu đối với Việt Nam là: Lựa chọn mô hình và hệ thống an sinh xã hội thích hợp; Mở rộng nhanh chóng phạm vi và đối tượng được hưởng an sinh xã hội; Đổi mới cách tính mức đóng góp bảo hiểm và mức chi trả bảo hiểm; Nhanh chóng xây dựng các luật về an sinh xã hội; Khuyến khích khu vực tư nhân tham gia đóng góp vào hệ thống an sinh xã hội.

+ Phân tích và làm rõ bản chất của liên kết và hội nhập trên phạm vi quốc tế và khu vực; Nghiên cứu và so sánh các mô hình liên kết khu vực, từ đó chỉ ra những vấn đề mang tính phổ quát của liên kết khu vực và những vấn đề mang tính đặc thù của mỗi mô hình liên kết khu vực, những điều kiện liên kết thành công và phương thức liên kết của mỗi mô hình liên kết cũng như sự liên kết của các thành viên tham gia. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, Viện đã rút ra được một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, đặc biệt là trong việc tham gia sâu hơn, toàn diện hơn vào ASEAN và hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN vào năm 2015.

- Về đề tài cấp Bộ:

Từ năm 2005 đến 2008, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã chủ trì, thực hiện và hoàn thành nhiều đề tài nghiên cứu cấp Bộ. Có thể kể đến các đề tài như: “Mô hình phát triển của các nước Bắc Âu: một số vấn đề về tính phổ biến và tính đặc thù quốc gia”; “Chính sách hợp tác phát triển của Liên minh Châu Âu: cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”; “Tự do hoá thương mại và đầu tư trong quan hệ kinh tế quốc tế của Liên hiệp Châu Âu”; “Tây Ban Nha sau 20 năm hội nhập EU - thành công và những bài học kinh nghiệm”; “Các giải pháp chủ yếu phát triển quan hệ Nga - ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới”; “Một số vấn đề về cộng đồng người lao động Việt Nam ở Liên bang Nga hiện nay”; “Một số vấn đề cơ bản trong sự phát triển của Liên bang Nga những năm đầu thế kỷ XXI”, “Liên bang Nga gia nhập WTO và tác động tới Việt Nam”, cùng với một số đề tài nghiên cứu các chính sách trong những lĩnh vực cụ thể của EU. Bên cạnh đó, Viện còn thực hiện các đề tài mang tính nghiên cứu cơ bản như “Một số nét cơ bản về diện mạo, đặc trưng, vai trò của văn hóa Châu Âu”…

Từ năm 2009 đến 2012, Viện Nghiên cứu Châu Âu được Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) giao thực hiện 2 chương trình nghiên cứu cấp Bộ, mỗi chương trình gồm 1 đề tài mũ và các đề tài nhánh.

Chương trình khoa học cấp Bộ thứ nhất: “Một số vấn đề kinh tế, chính trị nổi bật của Châu Âu giai đoạn 2001-2010, dự báo giai đoạn 2011-2020 và tác động đến Việt Nam” đã được hoàn thành năm 2010. Tất cả các đề tài trong chương trình đã được nghiệm thu đều đạt loại khá và xuất sắc.

Chương trình nghiên cứu cấp Bộ thứ hai: “Điều chỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ chốt sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và tác động đến Việt Nam” được thực hiện trong 2 năm 2011-2012. Chương trình này được Viện Khoa học xã hội Việt Nam nghiệm thu chính thức vào đầu năm 2013, gồm 1 đề tài mũ, 7 đề tài nhánh và 2 báo cáo thường niên. Trong số 8 đề tài và 2 báo cáo thường niên, có 2 đề tài đạt loại xuất sắc, các đề tài và báo cáo còn lại đều đạt loại khá. Đề tài mũ tổng quan về điều chỉnh chính sách phát triển của một số quốc gia chủ chốt Châu Âu sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, và tác động tới Việt Nam; Các đề tài nhánh nghiên cứu, phân tích, làm rõ sự điều chỉnh chính sách phát triển của EU, Đức, Pháp, Anh, Nga, sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu và tác động tới Việt Nam; Nghiên cứu, phân tích, làm rõ sự điều chỉnh chính sách an sinh xã hội ở các nước Bắc Âu sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; Khủng hoảng nợ công ở một số nước thành viên EU và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Các báo cáo thường niên tập trung vào các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội của Châu Âu các năm 2011 và 2012.

Qua việc chủ trì thực hiện những đề tài nêu trên, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề cơ bản và cấp bách sau đây:

+ Phân tích và làm rõ yêu cầu phải điều chỉnh chính sách thương mại của EU và những nội dung điều chỉnh chủ yếu trong chính sách thương mại của khối này. Đồng thời, nghiên cứu tác động của điều chỉnh chính sách thương mại EU đến các mối quan hệ bên trong và bên ngoài của EU; ảnh hướng của điều chỉnh chính sách thương mại EU tới quan hệ thương mại Việt Nam - EU.

+ Phân tích và làm rõ thực trạng, vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở Nga và ở các nước Đông Âu; phân tích các chính sách của Nga và các nước Đông Âu đối với người nước ngoài, trong đó có cộng đồng người Việt Nam sinh sống và làm việc tại nước họ. Từ kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học của Viện đưa ra các kiến nghị tăng cường vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Nga và Đông Âu; từ đó góp phần thúc đẩy quan hệ giữa Việt Nam với các nước này.

+ Phân tích và làm rõ quá trình hình thành và phát triển của mô hình nhà nước phúc lợi Bắc Âu; làm rõ tính phổ biến và tính đặc thù của mô hình, những thành công, hạn chế, xu hướng cải cách, điều chỉnh của mô hình và từ đó đúc kết những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.

+ Phân tích và làm rõ đặc điểm văn hóa Châu Âu qua các thời kỳ lịch sử, các trào lưu tư tưởng và tinh thần; đồng thời làm rõ diện mạo của các vùng văn hóa Châu Âu, xác định những đặc trưng cơ bản và vai trò của văn hóa Châu Âu. Từ những phân tích đó đưa ra những kiến nghị nhằm thúc đẩy quan hệ văn hóa Việt Nam - Châu Âu.

+ Phân tích và làm rõ nội dung, xu hướng thay đổi trong chính sách cung cấp viện trợ phát triển ODA và các khoản tài trợ của EU cho Việt Nam, từ đó đưa ra các giải pháp kiến nghị nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả dòng vốn ODA cũng như các ưu đãi mà EU cung cấp.

+ Phân tích nội dung chính của chính sách cạnh tranh của EU, những nhân tố tác động đến việc điều chỉnh chính sách cạnh tranh, nội dung điều chỉnh chính sách cạnh tranh và vai trò của nó trong việc thúc đẩy thương mại nội khối. Kết quả nghiên cứu này đã được xuất bản thành sách.

+ Phân tích và đánh giá những vấn đề đề kinh tế, chính trị nổi bật của khu vực Châu Âu từ năm 2001 đến nay, dự báo xu hướng phát triển chủ yếu của khu vực Châu Âu đến năm 2020 và đánh giá những tác động có thể đến khu vực, thế giới và Việt Nam. Từ đó, đưa ra những khuyến nghị cho việc hoạch định chính sách của Việt Nam trong bối cảnh phát triển của khu vực Châu Âu giai đoạn 2011-2020 và những giải pháp phát triển quan hệ hợp tác toàn diện của Việt Nam với khu vực này trong bối cảnh mới.

+ Phân tích làm rõ những yếu tố tác động tới sự phục hồi và phát triển của các cường quốc Châu Âu trong giai đoạn sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu; những điều chỉnh chính sách và xu thế phát triển của các quốc gia này trong giai đoạn trung hạn; đưa ra những phân tích dự báo về tác động tới thế giới, khu vực và Việt Nam; từ đó rút ra những bài học lý luận và thực tiễn đóng góp cho việc triển khai các nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ XI; đưa ra những khuyến nghị nhằm phát triển quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam với EU và các quốc gia chủ chốt ở Châu Âu trong trung hạn.

Hiện nay, Viện Nghiên cứu Châu Âu đang chủ trì 6 đề tài cấp Bộ do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cấp kinh phí. Đó là các đề tài: “Vai trò của Nhà nước pháp quyền trong phát triển kinh tế thị trường hiện đại ở Cộng hòa Liên bang Đức”; “Sự điều chỉnh FTA của Liên minh Châu Âu và đối sách của Việt Nam”; “Tác động của khủng hoảng nợ công tới thể chế kinh tế - chính trị của Liên minh Châu Âu”; “Tổ chức bộ máy nhà nước trung ương của một số quốc gia Châu Âu (Pháp, Đức, Thụy Điển)”; “Bảo hiểm nông nghiệp ở một số nước Châu Âu và gợi mở chính sách cho Việt Nam” và “Vốn xã hội trong phát triển ở Châu Âu và gợi ý cho Việt Nam”.

+ Về đề tài nghiên cứu cấp cơ sở:

Đề tài cấp cơ sở chỉ được thực hiện ở Viện đến năm 2008. Từ năm 2009-2012, hệ đề tài cấp Viện được thay thế bởi chương trình nghiên cứu và hệ các đề tài cấp Bộ. Các đề tài cấp Viện từ năm 2005 đến 2008 hướng tới những chủ đề có tính thời sự ở các quốc gia Châu Âu và các vấn đề sau này có thể liên quan đến quan hệ Việt Nam với các nước Châu Âu.

Năm 2006, Viện đã hoàn thành 10 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở. Các đề tài tập trung vào các chủ đề như “Chính sách thương mại của EU: những tác động và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”; “Chính sách đối ngoại của Liên minh Châu Âu hiện nay: cơ chế phối hợp giữa các nước thành viên và cấp độ liên minh”; “Các mô hình thể chế kinh tế thị trường cơ bản ở Châu Âu và bài học cho Việt Nam trong quá trình xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; “Cải cách thể chế dân chủ ở Nga”; “Thực trạng quan hệ EU - Nhật Bản trong những năm gần đây”; “Nghiên cứu về xã hội dân sự Châu Âu - một số vấn đề đặt ra”; “Giáo dục Pháp - Việt ở Bắc Kỳ (1906-1945)”; “Hợp tác khoa học công nghệ Liên bang Nga - Việt Nam, Liên bang Nga - ASEAN, hiện trạng và triển vọng”; “Doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) và các chính sách, chương trình cho SMEs ở Châu Âu”.

Năm 2007, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã nghiên cứu 11 đề tài ở cấp cơ sở về các chủ đề như: “Vấn đề xã hội Châu Âu - từ thực tiễn đến Chương trình nghị sự Châu Âu giai đoạn 2006-2010”; “Một số vấn đề về phân chia thẩm quyền giữa Liên minh Châu Âu với các nước thành viên theo các hiệp ước hiện nay”; “Vấn đề quốc gia và tộc người ở các nước vùng Ban-căng”; “EU mở rộng và vấn đề toàn cầu hoá”; “Những cơ sở pháp lý cho mối quan hệ Nga - ASEAN”; “Chính sách thương mại của Liên minh Châu Âu trong quan hệ với các nước đang phát triển”; “Cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Nga hiện nay”; “Mô hình kinh tế thị trường Anh”; “Tác động của chính sách thương mại chung của Liên minh Châu Âu tới các đối tác thương mại”; “Cơ sở dữ liệu thư mục sách, tài liệu kinh tế - chính trị - xã hội của EU từ năm 2000 đến nay” và “Tiêu chuẩn quản lý môi trường Châu Âu”.

Đề tài ở cấp cơ sở năm 2008 đã tăng hơn các năm trước về số lượng. Các đề tài tập trung vào các chủ đề như: “Hiệp định hợp tác và đối tác của Liên minh Châu Âu với một số đối tác, kinh nghiệm rút ra đối với Việt Nam”; “Một số vấn đề cơ bản về xây dựng nhà nước pháp quyền ở Châu Âu hiện nay”; “Tiêu chuẩn môi trường của Liên minh Châu Âu (EU) đối với mặt hàng thuỷ sản và các giải pháp đối với hàng xuất khẩu Việt Nam”; “Mô hình kinh tế thị trường xã hội của Đức”; “Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội EU và các nước SNG năm 2008 và triển vọng năm 2009”; “Những thành tựu và thách thức sau 4 năm gia nhập EU của các nước Trung và Đông Âu”; “An sinh xã hội - một số vấn đề lý luận và thực tiễn”; “Cải cách thể chế ở Liên bang Nga”; “Cải cách giáo dục, y tế, lao động tiền lương ở Liên bang Nga”; “Một số đặc điểm phát triển kinh tế Liên bang Nga từ năm 2000 tới nay” và “Chính sách đối ngoại của Liên bang Nga từ năm 2000 đến nay”; “Xây dựng Bộ danh mục Từ chuẩn - Từ khoá phục vụ tìm tin trong các CSDL Thư viện - Viện Nghiên cứu Châu Âu”. 

Trong giai đoạn 2013-2014, các đề tài cấp cơ sở tiếp tục được triển khai, hướng tới mục tiêu tiếp tục xây dựng và những kiến thức cơ bản về Châu Âu và nâng cao trình độ nghiên cứu chuyên sâu cho đội ngũ cán bộ nghiên cứu của Viện. Các đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề như: Những vấn đề lịch sử hình thành và phát triển của các hiệp ước, hiệp định trong EU; Cơ sở lý luận và thực tiễn về các chính sách của EU và các nước trong khu vực; Cơ sở lý luận và thực tiễn tại Châu Âu đối với các lý thuyết, học thuyết về kinh tế, chính trị, xã hội, hợp tác quốc tế…

Đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, có thể thấy rằng, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã chủ trì thực hiện tất cả các loại đề tài các cấp: cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp cơ sở. Ngoài kinh phí do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cấp để thực hiện các đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu cấp Bộ và cấp cơ sở, Viện còn chủ động và tích cực tìm kiếm được các nguồn kinh phí khác của Nhà nước thông qua hình thức đấu thầu, được tuyển chọn để thực hiện các đề tài cấp Nhà nước, đề tài sử dụng kinh phí của Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ. Ngoài kinh phí của Nhà nước, Viện cũng đã tìm được các nguồn kinh phí khác, trước hết là tài trợ của nước ngoài (100% hoặc từng phần). Các đề tài đã được Viện chủ trì đều thực hiện đúng thời hạn, đạt chất lượng từ loại khá trở lên, trong đó có nhiều công trình đạt loại xuất sắc. Hầu hết các đề tài sau khi nghiệm thu đều được xuất bản thành sách và được công bố trong các tạp chí chuyên ngành. Chính qua thực hiện các đề tài nghiên cứu nói trên mà vị thế và uy tín của Viện ngày càng được nâng cao. Viện Nghiên cứu Châu Âu đã được nhiều tổ chức tài trợ nghiên cứu thuộc Liên minh Châu Âu, cũng như nhiều tổ chức nghiên cứu của các quốc gia thuộc Châu Âu biết đến và đang trở thành địa chỉ hợp tác nghiên cứu có uy tín và tin cậy. Cũng thông qua thực hiện các đề tài nghiên cứu, Viện đã ký kết, thực hiện nhiều hợp đồng nghiên cứu khoa học với các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học và các nhà khoa học trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật và của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Điều này đã tạo ra mạng lưới hợp tác nghiên cứu giữa Viện với các tổ chức, cơ quan nghiên cứu khoa học cũng như các nhà khoa học trong và ngoài nước.

2. Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực Châu Âu học

Kết hợp nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực nghiên cứu Châu Âu, tự đào tạo và thực hiện đào tạo sau đại học, tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao là một trong những chức năng và nhiệm vụ quan trọng của Viện Nghiên cứu Châu Âu. Trong thời gian qua, nhiều cán bộ nghiên cứu của Viện đã và đang tham gia các khóa học nghiên cứu sinh và thạc sĩ ở các cơ sở đào tạo trong nước và ngoài nước. Nhiều cán bộ nghiên cứu của Viện đã và đang tham gia giảng dạy đại học và sau đại học ở nhiều cơ sở đào tạo trong nước như: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Kinh tế, Khoa Lịch sử, Khoa Quốc tế học, Khoa Luật,...), Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Huế, Đại học Ngoại thương, Học viện Ngoại giao, Học viện Khoa học xã hội, Đại học Thái Nguyên, Đại học Vinh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, v.v... Ở các cơ sở đó, các cán bộ của Viện được đánh giá là có trình độ chuyên môn cao, có phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình, có trách nhiệm và có phương pháp giảng dạy hiện đại, mang tính thực tế.

Các sản phẩm nghiên cứu của Viện được cán bộ của Viện tham gia đào tạo sử dụng làm tư liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh. Sau khi mã ngành Châu Âu học được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo thí điểm, với tư cách là bộ môn trực tiếp giúp Học viện Khoa học xã hội về công tác chuyên môn, Viện đã sử dụng các sản phẩm của các đề tài đã nghiệm thu để xây dựng đề cương nội dung đào tạo, tổ chức viết đề cương giáo trình, tài liệu học tập cho học viên cao học.

  1. Tham gia thẩm định và tư vấn chính sách

Trong thời gian qua, Viện Nghiên cứu Châu Âu và cán bộ nghiên cứu của Viện đã được Lãnh đạo Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giao nhiệm vụ viết một số báo cáo về các vấn đề kinh tế, chính trị, đối ngoại có tính thời sự và cấp bách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã ủy quyền cho Viện tham gia thẩm định, đóng góp ý kiến đối với một số chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, dự án văn bản pháp luật của các bộ, ban, ngành ở trung ương.      

  1.  Kết quả hợp tác quốc tế trong lĩnh vực khoa học

Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, trong thời gian qua, Viện Nghiên cứu Châu Âu tiếp tục hợp tác có hiệu quả với các đối tác truyền thống Liên bang Nga, Ucraine, Ba Lan, Hungary, Cộng hòa Séc và phát triển quan hệ với các đối tác Pháp, Bỉ, Italia, Thuỵ Điển, Anh, Đức, Na Uy, Đan Mạch, Liên minh Châu Âu... trong việc xây dựng, chủ trì và tổ chức thực hiện một số chương trình, dự án nghiên cứu. 

Viện Nghiên cứu Châu Âu đã chủ trì và tổ chức thực hiện có kết quả “Chương trình nghiên cứu Châu Âu tại Việt Nam”, chương trình này được tài trợ bởi Ủy ban Châu Âu và Chính phủ Việt Nam; Dự án “Nâng cao vai trò của công nhân và công đoàn ở Việt Nam” do Liên minh Châu Âu tài trợ kinh phí. Hiện nay, Viện đang phối hợp với Viện Nghiên cứu Tương lai (Thụy Điển) thực hiện dự án “Những cơ hội cho các chính sách bảo trợ xã hội ở Việt Nam: ứng phó với toàn cầu hoá, thay đổi dân số và nghèo đói trên cơ sở kinh nghiệm Thuỵ Điển”. Dự án này được thực hiện với sự tài trợ của Cơ quan hợp tác phát triển Thuỵ Điển (SIDA). Trong năm 2013, Viện Nghiên cứu Châu Âu tiếp tục thực hiện những công việc của dự án quốc tế “Tăng cường quyền của công nhân và đại diện của công đoàn” do Liên minh Châu Âu tài trợ và dự án “Hội nhập ở Đông Nam Á: các xu hướng gắn kết và động lực loại trừ”, thuộc Chương trình Khung 7 (FP7), do Liên minh Châu Âu tài trợ. Dự kiến 2 dự án này sẽ kết thúc vào năm 2015. Các dự án hợp tác với Nga, do Quỹ Phát triển khoa học xã hội nhân văn Nga tài trợ với Viện Kinh tế, Viện Chính trị - xã hội và Viện Viễn Đông thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Nga “Di dân Nga vào Việt Nam và các nước Đông Nam Á: những hình thức mới và đặc điểm thích nghi về kinh tế, xã hội (2013-2015)”; “Những hậu quả về nhân khẩu học, kinh tế, xã hội do lũ lụt ở những vùng ven biển Việt Nam trong điều kiện khí hậu ấm nóng toàn cầu (2013-2015)”.

Những chương trình, dự án hợp tác quốc tế này đã và đang có những đóng góp nhất định trên các phương diện sau:

+ Nâng cao kiến thức và hiểu biết của Việt Nam về EU; thúc đẩy việc nghiên cứu Châu Âu ở Việt Nam; đào tạo các chuyên gia Việt Nam nhằm nâng cao trình độ giảng dạy và nghiên cứu về EU; thiết lập mạng lưới thông tin tại Việt Nam, ASEAN và Châu Âu; phổ biến kiến thức chung về EU ở Việt Nam.

+ Xây dựng phương pháp tiếp cận từ dưới lên trong nghiên cứu khu vực nông thôn và nông dân, góp phần thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo và phát triển bền vững.

+ Tăng cường năng lực của Công đoàn Việt Nam trong việc nhận biết, nêu rõ và tổ chức nhu cầu cũng như lợi ích của những thành phần dễ bị tổn thương nhất trong lực lượng lao động công nghiệp mới. Bên cạnh đó, dự án xây dựng một phương pháp luận nghiên cứu và tiếp cận đối với công nhân, từ đó giúp hiểu biết về các điều kiện sống và làm việc của công nhân nhằm ban hành và thực hiện các chính sách an sinh xã hội đối với công nhân tốt hơn. Những kinh nghiệm từ các nước trên thế giới, đặc biệt là từ Châu Âu, sẽ là bài học bổ ích cho Việt Nam trong công cuộc phát triển đất nước, nâng cao thu nhập và đời sống của người lao động, cũng như đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

+ Nhận thức những khó khăn và thách thức đối với hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi dân số, từ đó đề ra các điều chỉnh chính sách nhằm xây dựng chính sách an sinh xã hội toàn diện và bao quát hơn. Thụy Điển là quốc gia nổi bật với mô hình an sinh xã hội toàn diện, kinh nghiệm từ Thụy Điển là những đúc rút có giá trị cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và cải cách hệ thống an sinh xã hội của mình.

+ Thông qua các dự án nghiên cứu trên, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã thiết lập được một mạng lưới các mối quan hệ với các trường đại học và trung tâm nghiên cứu lớn tại Châu Âu như: Đại học Naples “Phương Đông” (Italy), Đại học Roskilde (Đan Mạch), Đại học Metropolitan (Đan Mạch), Đại học Bocconi (Italy), Đại học Paris 1 Sorbonne (Pháp), Tổng Liên đoàn Lao động Italia (CGIL) (Italy), Viện Nghiên cứu Tương lai (Thụy Điển), Đại học Stockholm (Thụy Điển), Đại học Oslo (Na Uy), Đại học Coimbra (Bồ Đào Nha), Đại học Chulalongkorn (Thái Lan)...

Cũng trong khuôn khổ mở rộng hợp tác quốc tế về nghiên cứu và đào tạo, Viện Nghiên cứu Châu Âu đã cử hàng chục đoàn/ cán bộ khoa học đi khảo sát, nghiên cứu, trao đổi khoa học tại nhiều nước ở Châu Âu như Nga, Pháp, Bỉ, Italia, Thụy Điển, Ba Lan, Ucraina... Bên cạnh đó, hằng năm, Viện đã đón tiếp, trao đổi khoa học với nhiều học giả, các nhà khoa học đến từ nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế trên thế giới. Các cán bộ khoa học của đơn vị qua các thời kỳ cũng tham gia và đóng góp kết quả nghiên cứu của mình trong nhiều hội thảo, hội nghị khoa học quốc tế quan trọng được tổ chức trong và ngoài nước.

II. CÁC HÌNH THỨC KHEN THƯỞNG ĐỐI VỚI TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN

Trong những năm qua, Viện Nghiên cứu châu Âu đã đạt được danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc và được nhận Cờ thi đua cấp Viện Khoa học xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam). Năm 2012 Viện Nghiên cứu Châu Âu được Thủ tướng Chính phủ tặng Bằng khen. Năm 2013, Viện Nghiên cứu Châu Âu được Chủ tịch nước tặng Huân chương lao động Hạng Ba.  

Bên cạnh những thành tích chung của tập thể, một số cán bộ của Viện Nghiên cứu Châu Âu đã đạt được nhiều thành tích xuất sắc và được ghi nhận qua những hình thức khen thưởng khác nhau, trong đó cố GS.TS. Bùi Huy Khoát được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Nhì; PGS.TS. Đinh Công Tuấn được Chủ tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba; TS. Trần Thị Phương Hoa được Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trao giải nhất của Giải thưởng Phạm Thận Duật. Hằng năm, nhiều cán bộ của Viện đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở và Chiến sĩ thi đua cấp Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.

 



[1]. Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Nguyễn Duy Quý (chủ biên), Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia: 50 năm xây dựng và phát triển, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2003, trang 508.

1. Đề tài do GS.TS. Nguyễn Duy Quý làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2004.

[2]. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 1996.

[3]. Đề tài do TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 1997.

[4]. Đề tài do TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 1998.

[5]. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 1998.

[6]. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2000.

[7]. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2001.

1. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2002.

2. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2002.

3. Đề tài do PGS.TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2002.

4. Đề tài do TS. Nguyễn An Hà làm Chủ nhiệm và hoàn thành năm 2004.

1. Đề tài do PGS.TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2007 đến 2009, nghiệm thu đạt loại khá.

2. Đề tài do GS.TS. Bùi Huy Khoát/PGS.TS. Nguyễn Quang Thuấn/TS. Bùi Nhật Quang làm đồng Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2009 đến 2010, nghiệm thu đạt loại xuất sắc.

3. Đề tài do PGS.TS. Đinh Công Tuấn làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2012 đến 2014.

4. Đề tài do PGS.TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2006 đến 2007, nghiệm thu đạt loại xuất sắc.

1. Đề tài do TS. Nguyễn An Hà làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2008 đến 2010, nghiệm thu đạt loại xuất sắc.

2. Đề tài do GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2010 đến 2011, nghiệm thu đạt loại khá.

3. Đề tài do PGS.TS. Nguyễn An Hà làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2011 đến 2013.

4. Đề tài do GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2010 đến 2012.

5. Đề tài do PGS.TS. Đinh Công Tuấn làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2011 đến 2013.

6. Đề tài do PGS.TS. Nguyễn An Hà làm Chủ nhiệm, thực hiện từ năm 2012 đến 2014.

 



Các tin đã đưa ngày: