Định hướng hoạt động

15/08/2012

1. Về tổ chức bộ máy

Căn cứ vào quy hoạch của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Châu Âu tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy theo nội dung Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ theo hướng gọn, hiện đại, chuyên nghiệp, chuyên sâu và hiệu quả. Các phòng, trung tâm nghiên cứu được tổ chức lại theo hướng chú ý và kết hợp giữa nghiên cứu với đào tạo, nghiên cứu theo lĩnh vực và nghiên cứu theo khu vực, nghiên cứu liên kết khu vực và nghiên cứu từng quốc gia thành viên.   

Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các quy chế về tổ chức và hoạt động của Viện cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị trong từng giai đoạn. Thường xuyên rà soát, bổ sung, xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy chế quản lý nội bộ trong đơn vị và quy chế phối hợp giữa chính quyền và đoàn thể trong đơn vị. Đảm bảo ngoài các quy định của pháp luật và của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, tất cả các hoạt động trong đơn vị đều được quản lý và thực hiện theo quy chế, quy định nội bộ.

2. Về công tác quản lý, quy hoạch, đào tạo cán bộ quản lý và tăng cường chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ

Đến năm 2015, Viện dự kiến có khoảng 45 cán bộ biên chế; tùy thuộc vào nhu cầu công việc của Viện, Viện có thể sử dụng 6-10 người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động. Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ của Viện dự kiến có khoảng 65 người thuộc đối tượng được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Viện xác định và coi con người là nhân tố trung tâm trong sự tồn tại và phát triển của Viện. Thường xuyên quan tâm công tác quy hoạch cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng và phương pháp làm việc, kinh nghiệm quản lý không chỉ đối với lực lượng nghiên cứu mà cả đội ngũ hành chính và phục vụ nghiên cứu; mỗi người gắn với một chức danh và có nhiệm vụ, quyền lợi cụ thể. Lực lượng nghiên cứu được bố trí vị trí làm việc và giao nhiệm vụ phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo và năng lực của họ. 

Phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học. Cải thiện điều kiện và môi trường làm việc để thu hút những nhà khoa học có trình độ, có đức, có tài gắn bó với sự nghiệp khoa học và đào tạo, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc của Viện.

Cán bộ, viên chức của Viện quán triệt, chấp hành nghiêm túc đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như nội quy, quy chế của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; không có đảng viên nào vi phạm những điều đảng viên không được làm; không có cán bộ, viên chức nào bị kỷ luật.

3. Về hoạt động nghiên cứu và quản lý hoạt động khoa học

Hoạt động nghiên cứu được tiến hành theo hướng đa ngành và liên ngành; kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và tư vấn chính sách, cung cấp dịch vụ trong khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học. Thực hiện đúng hạn, có chất lượng tất cả các đề tài. Ngoài các đề tài cấp Viện, cấp Bộ do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giao hoặc đặt hàng, Viện còn chủ động tìm kiếm hoặc tham gia đấu thầu, nhận đặt hàng các đề tài, nhiệm vụ, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước; đề tài, nhiệm vụ, dự án theo phương thức nghị định thư; đề tài, nhiệm vụ, dự án được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế.

Nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia trong từng lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, đồng thời củng cố vị thế và bản sắc nghiên cứu của Viện trong giới nghiên cứu khoa học, Viện sẽ xác định rõ hơn lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu của từng phòng, từng trung tâm nghiên cứu và lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu của từng cán bộ nghiên cứu; đảm bảo các lĩnh vực chủ yếu của Châu Âu học đều có địa chỉ nghiên cứu, mỗi cán bộ đều có chức danh và địa hạt nghiên cứu cụ thể. Phấn đấu đến năm 2020, mỗi lĩnh vực nghiên cứu có ít nhất một chuyên gia có khả năng giải đáp kịp thời các câu hỏi, nhiệm vụ chuyên môn do cấp trên giao cho. Mỗi cán bộ nghiên cứu đều có kiến thức chuyên ngành sâu và liên ngành trong lĩnh vực nghiên cứu.

Dưới đây là một số định hướng lĩnh vực và chủ đề nghiên cứu:

- Nghiên cứu những điều chỉnh của các tổ chức, liên kết khu vực và các quốc gia Châu Âu trong việc đối phó với khủng hoảng từ mô hình phát triển, thể chế chính trị, chiến lược phát triển, vai trò của Nhà nước, của thị trường trong phát triển kinh tế - xã hội, quản lý phát triển xã hội, chính sách an sinh xã hội, chính sách ứng phó với biển đổi khí hậu... Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những khuyến nghị cho Việt Nam trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền XHCN, nhằm thực hiện phát triển nhanh và bền vững, cũng như thúc đẩy quan hệ hợp tác của Việt Nam trong các lĩnh vực này.

- Nghiên cứu toàn cầu hóa và những tác động tới các nước, các khu vực và thế giới, cũng như sự điều chỉnh của các nước, đặc biệt là các nước chuyển đổi nhằm tăng cường tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực tới tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cũng như tận dụng các cơ hội, hạn chế tác động tiêu cực mà toàn cầu hóa đem lại cho Việt Nam.

- Nghiên cứu các liên kết khu vực, xuyên khu vực như: EU, SNG, ASEM... nhằm cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các doanh nghiệp, nhân dân, nhằm có hiểu biết sâu sắc về các quá trình này, thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện đa phương, đa dạng hóa của Việt Nam.

- Nghiên cứu các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, ngoại giao của các tổ chức khu vực cũng như các quốc gia chủ chốt ở Châu Âu: những biến động về địa - chính trị, địa - kinh tế, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của các tổ chức khu vực như: EU, SNG, của các cường quốc Châu Âu như Nga, Đức, Anh, Pháp và các quốc gia Châu Âu khác nhằm cung cấp thông tin cho hoạch định chính sách, tăng cường quan hệ đối ngoại về kinh tế thương mại, chính trị ngoại giao, văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ của Việt Nam với các nước này trên mọi cấp độ. 

- Nghiên cứu các nền kinh tế chuyển đổi, việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp, thiết lập các thể chế kinh tế thị trường hiện đại, cải tổ hệ thống chính trị theo hướng phát triển đồng bộ với kinh tế thị trường, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, đảm bảo phát triển bền vững, hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các quốc gia Châu Âu, các liên minh và liên kết quốc tế trong khu vực, các vấn đề lý luận và thực tiễn về những chủ trương và chính sách của các quốc gia Châu Âu, EU và các tổ chức quốc tế khác trong khu vực, nhằm bổ sung và phát triển những kiến thức cơ bản về Châu Âu, làm nền tảng cho nghiên cứu nâng cao kết hợp với đào tạo chuyên sâu.

4. Về hoạt động hợp tác quốc tế

Phát triển hoạt động hợp tác quốc tế trên tất cả các phương diện: nghiên cứu khoa học và đào tạo; tiếp tục duy trì và phát triển các mối quan hệ với các đối tác truyền thống như: Liên bang Nga, Ba Lan, Hungary, Italy, Pháp, Thụy Điển, Bỉ… làm sâu sắc thêm các nghiên cứu về khu vực này và hình thành được các chuyên gia nghiên cứu về các nước này.

Thiết lập và phát triển quan hệ với các đối tác mới; mở rộng địa bàn hợp tác và phạm vi nghiên cứu về khu vực địa lý, không chỉ với các nước ở Đông Âu mà cả với các nước ở Bắc Âu, Nam Âu và Tây Âu; phát triển đồng thời quan hệ hợp tác với các tổ chức của các quốc gia với các tổ chức thuộc khối Liên minh Châu Âu hoặc hợp tác với các tổ chức quốc tế nghiên cứu về Châu Âu; hợp tác đồng thời với các tổ chức ở cả các nước phát triển và các nước đang chuyển đổi; mở rộng các mối quan hệ hợp tác không chỉ với các tổ chức nghiên cứu mà cả với các tổ chức đào tạo; mở rộng các chủ đề trong hợp tác nghiên cứu khoa học. 

5. Về hoạt động hợp tác với các tổ chức trong nước

Góp ý và phản biện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình và dự án phát triển của đất nước và địa phương theo yêu cầu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các bộ, địa phương và doanh nghiệp. Trong phạm vi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Châu Âu phấn đấu trở thành đầu mối kết nối hoặc hỗ trợ các tổ chức, các viện nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu với các tổ chức liên quan ở khu vực Châu Âu. Trong lĩnh vực hợp tác nghiên cứu và đào tạo về Châu Âu học cũng như trong tư vấn chính sách, Viện phấn đấu trở thành trung tâm cung cấp thông tin, kết nối hoặc điều phối hợp tác nghiên cứu với các tổ chức ở các nước trong khu vực Châu Âu. Ngoài ra, Viện sẽ tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo và địa phương trong nước trong phát hiện vấn đề nghiên cứu, triển khai thực hiện các dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu. Qua đó, gắn kết nhiệm vụ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của Viện với yêu cầu và nhiệm vụ phục vụ thực tiễn trong nước.

6. Về đào tạo và tư vấn

Hiện nay và trong thời gian tới, Viện kết hợp với Học viện Khoa học xã hội tổ chức đào tạo sau đại học chuyên ngành Châu Âu học. Ngoài ra, Viện và các cán bộ nghiên cứu của Viện sẽ tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của cả nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp; hợp tác nghiên cứu và liên kết đào tạo về Châu Âu học với các tổ chức quốc tế, các viện và trường đại học nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Viện tiếp tục thực hiện các hoạt động tư vấn đào tạo, tư vấn du học và mở rộng thêm các hoạt động tư vấn khác như tư vấn tìm dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, cung cấp cho thông tin doanh nghiệp... 

7. Về hoạt động đoàn thể xã hội

Xây dựng khối đoàn kết thống nhất và đồng thuận giữa lãnh đạo Viện và các đoàn thể xã hội trong Viện; các thành viên sống và làm việc có trách nhiệm, trung thực, hợp tác, thi đua và tương thân, tương ái. Phát huy dân chủ và vai trò của các đoàn thể xã hội. Mỗi tổ chức xã hội và đoàn thể trong đơn vị hoạt động đúng pháp luật, đúng mục tiêu, tôn chỉ của mình.

8. Về cơ sở vật chất, kỹ thuật

Ngoài kinh phí do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cấp từ ngân sách Nhà nước, Viện sẽ tìm kiếm các nguồn kinh phí khác từ việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu, đào tạo, tư vấn ở các cấp độ như đề tài, nhiệm vụ, dự án cấp Nhà nước, nghị định thư, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế. Quản lý, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích tài sản và các khoản thu hoặc kinh phí được cấp.

Trang bị các phương tiện làm việc hiện đại, phục vụ tốt cho hoạt động nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu như phòng làm việc, máy vi tính, hạ tầng mạng thông tin, v.v…

9. Về hoạt động của Tạp chí

Tạp chí sẽ mở rộng mạng lưới cộng tác viên để các bài đăng được phong phú hơn. Tạp chí tăng cường tham khảo kinh nghiệm của các tạp chí khác trong việc tăng nguồn kinh phí cho hoạt động của Tạp chí; tăng số lượng phát hành Tạp chí qua kênh các trường đại học.

Kiện toàn bộ máy tổ chức của Tạp chí, xây dựng đội ngũ cán bộ của Tạp chí có chuyên môn và kỹ năng biên tập đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

10. Về hoạt động xuất bản, công bố kết quả nghiên cứu

Công bố, xuất bản thành sách các sản phẩm của các đề tài, nhiệm vụ, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước, nghị định thư, đề tài, nhiệm vụ, dự án được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế. Khuyến khích các cán bộ Viện công bố các kết quả nghiên cứu của mình với yêu cầu tối thiểu là mỗi cán bộ nghiên cứu hằng năm phải công bố ít nhất một bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành.

11. Về công tác thông tin, tư liệu, thư viện

Tăng số lượng đầu sách, tạp chí và các tài liệu khác bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài về các lĩnh vực liên quan đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của Viện. Thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu của thư viện. Các tài liệu, dữ liệu có thể được tra cứu trong mạng nội bộ và trên mạng internet. Kết nối thư viện của Viện với mạng lưới thư viện của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, thư viện quốc gia, thư viện địa phương và thư viện của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong nước. 

Mở rộng việc khai thác các tài liệu dưới dạng số hóa. Ứng dụng và khai thác triệt để công nghệ thông tin trong công tác thông tin, tư liệu, thư viện. 

Định hướng hoạt động

2. Về công tác quản lý, quy hoạch, đào tạo cán bộ quản lý và tăng cường chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ

Căn cứ vào quy hoạch của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Châu Âu tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy theo nội dung Nghị định 115/2005/NĐ-CP ngày 05/9/2005 của Chính phủ theo hướng gọn, hiện đại, chuyên nghiệp, chuyên sâu và hiệu quả. Các phòng, trung tâm nghiên cứu được tổ chức lại theo hướng chú ý và kết hợp giữa nghiên cứu với đào tạo, nghiên cứu theo lĩnh vực và nghiên cứu theo khu vực, nghiên cứu liên kết khu vực và nghiên cứu từng quốc gia thành viên.   

Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện các quy chế về tổ chức và hoạt động của Viện cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị trong từng giai đoạn. Thường xuyên rà soát, bổ sung, xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nội quy, quy chế quản lý nội bộ trong đơn vị và quy chế phối hợp giữa chính quyền và đoàn thể trong đơn vị. Đảm bảo ngoài các quy định của pháp luật và của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội, tất cả các hoạt động trong đơn vị đều được quản lý và thực hiện theo quy chế, quy định nội bộ.

2. Về công tác quản lý, quy hoạch, đào tạo cán bộ quản lý và tăng cường chất lượng chuyên môn của đội ngũ cán bộ

Đến năm 2015, Viện dự kiến có khoảng 45 cán bộ biên chế; tùy thuộc vào nhu cầu công việc của Viện, Viện có thể sử dụng 6-10 người làm việc theo chế độ hợp đồng lao động. Đến năm 2020, đội ngũ cán bộ của Viện dự kiến có khoảng 65 người thuộc đối tượng được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

Viện xác định và coi con người là nhân tố trung tâm trong sự tồn tại và phát triển của Viện. Thường xuyên quan tâm công tác quy hoạch cán bộ, đào tạo và bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ, kỹ năng và phương pháp làm việc, kinh nghiệm quản lý không chỉ đối với lực lượng nghiên cứu mà cả đội ngũ hành chính và phục vụ nghiên cứu; mỗi người gắn với một chức danh và có nhiệm vụ, quyền lợi cụ thể. Lực lượng nghiên cứu được bố trí vị trí làm việc và giao nhiệm vụ phù hợp với chuyên môn đã được đào tạo và năng lực của họ. 

Phát huy dân chủ trong nghiên cứu khoa học. Cải thiện điều kiện và môi trường làm việc để thu hút những nhà khoa học có trình độ, có đức, có tài gắn bó với sự nghiệp khoa học và đào tạo, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào công việc của Viện.

Cán bộ, viên chức của Viện quán triệt, chấp hành nghiêm túc đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như nội quy, quy chế của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; không có đảng viên nào vi phạm những điều đảng viên không được làm; không có cán bộ, viên chức nào bị kỷ luật.

3. Về hoạt động nghiên cứu và quản lý hoạt động khoa học

Hoạt động nghiên cứu được tiến hành theo hướng đa ngành và liên ngành; kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và tư vấn chính sách, cung cấp dịch vụ trong khoa học phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Viện; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động nghiên cứu khoa học. Thực hiện đúng hạn, có chất lượng tất cả các đề tài. Ngoài các đề tài cấp Viện, cấp Bộ do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giao hoặc đặt hàng, Viện còn chủ động tìm kiếm hoặc tham gia đấu thầu, nhận đặt hàng các đề tài, nhiệm vụ, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước; đề tài, nhiệm vụ, dự án theo phương thức nghị định thư; đề tài, nhiệm vụ, dự án được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế.

Nhằm xây dựng đội ngũ chuyên gia trong từng lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, đồng thời củng cố vị thế và bản sắc nghiên cứu của Viện trong giới nghiên cứu khoa học, Viện sẽ xác định rõ hơn lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu của từng phòng, từng trung tâm nghiên cứu và lĩnh vực, phạm vi nghiên cứu của từng cán bộ nghiên cứu; đảm bảo các lĩnh vực chủ yếu của Châu Âu học đều có địa chỉ nghiên cứu, mỗi cán bộ đều có chức danh và địa hạt nghiên cứu cụ thể. Phấn đấu đến năm 2020, mỗi lĩnh vực nghiên cứu có ít nhất một chuyên gia có khả năng giải đáp kịp thời các câu hỏi, nhiệm vụ chuyên môn do cấp trên giao cho. Mỗi cán bộ nghiên cứu đều có kiến thức chuyên ngành sâu và liên ngành trong lĩnh vực nghiên cứu.

Dưới đây là một số định hướng lĩnh vực và chủ đề nghiên cứu:

- Nghiên cứu những điều chỉnh của các tổ chức, liên kết khu vực và các quốc gia Châu Âu trong việc đối phó với khủng hoảng từ mô hình phát triển, thể chế chính trị, chiến lược phát triển, vai trò của Nhà nước, của thị trường trong phát triển kinh tế - xã hội, quản lý phát triển xã hội, chính sách an sinh xã hội, chính sách ứng phó với biển đổi khí hậu... Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, những khuyến nghị cho Việt Nam trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền XHCN, nhằm thực hiện phát triển nhanh và bền vững, cũng như thúc đẩy quan hệ hợp tác của Việt Nam trong các lĩnh vực này.

- Nghiên cứu toàn cầu hóa và những tác động tới các nước, các khu vực và thế giới, cũng như sự điều chỉnh của các nước, đặc biệt là các nước chuyển đổi nhằm tăng cường tác động tích cực, giảm thiểu các tác động tiêu cực tới tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, rút ra những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cũng như tận dụng các cơ hội, hạn chế tác động tiêu cực mà toàn cầu hóa đem lại cho Việt Nam.

- Nghiên cứu các liên kết khu vực, xuyên khu vực như: EU, SNG, ASEM... nhằm cung cấp thông tin cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các doanh nghiệp, nhân dân, nhằm có hiểu biết sâu sắc về các quá trình này, thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện đa phương, đa dạng hóa của Việt Nam.

- Nghiên cứu các quan hệ quốc tế về kinh tế, chính trị, ngoại giao của các tổ chức khu vực cũng như các quốc gia chủ chốt ở Châu Âu: những biến động về địa - chính trị, địa - kinh tế, sự điều chỉnh chính sách đối ngoại của các tổ chức khu vực như: EU, SNG, của các cường quốc Châu Âu như Nga, Đức, Anh, Pháp và các quốc gia Châu Âu khác nhằm cung cấp thông tin cho hoạch định chính sách, tăng cường quan hệ đối ngoại về kinh tế thương mại, chính trị ngoại giao, văn hóa giáo dục, khoa học công nghệ của Việt Nam với các nước này trên mọi cấp độ. 

- Nghiên cứu các nền kinh tế chuyển đổi, việc giải quyết mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và doanh nghiệp, thiết lập các thể chế kinh tế thị trường hiện đại, cải tổ hệ thống chính trị theo hướng phát triển đồng bộ với kinh tế thị trường, giải quyết các vấn đề an sinh xã hội, đảm bảo phát triển bền vững, hội nhập hiệu quả vào nền kinh tế khu vực và thế giới.

- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của các quốc gia Châu Âu, các liên minh và liên kết quốc tế trong khu vực, các vấn đề lý luận và thực tiễn về những chủ trương và chính sách của các quốc gia Châu Âu, EU và các tổ chức quốc tế khác trong khu vực, nhằm bổ sung và phát triển những kiến thức cơ bản về Châu Âu, làm nền tảng cho nghiên cứu nâng cao kết hợp với đào tạo chuyên sâu.

4. Về hoạt động hợp tác quốc tế

Phát triển hoạt động hợp tác quốc tế trên tất cả các phương diện: nghiên cứu khoa học và đào tạo; tiếp tục duy trì và phát triển các mối quan hệ với các đối tác truyền thống như: Liên bang Nga, Ba Lan, Hungary, Italy, Pháp, Thụy Điển, Bỉ… làm sâu sắc thêm các nghiên cứu về khu vực này và hình thành được các chuyên gia nghiên cứu về các nước này.

Thiết lập và phát triển quan hệ với các đối tác mới; mở rộng địa bàn hợp tác và phạm vi nghiên cứu về khu vực địa lý, không chỉ với các nước ở Đông Âu mà cả với các nước ở Bắc Âu, Nam Âu và Tây Âu; phát triển đồng thời quan hệ hợp tác với các tổ chức của các quốc gia với các tổ chức thuộc khối Liên minh Châu Âu hoặc hợp tác với các tổ chức quốc tế nghiên cứu về Châu Âu; hợp tác đồng thời với các tổ chức ở cả các nước phát triển và các nước đang chuyển đổi; mở rộng các mối quan hệ hợp tác không chỉ với các tổ chức nghiên cứu mà cả với các tổ chức đào tạo; mở rộng các chủ đề trong hợp tác nghiên cứu khoa học. 

5. Về hoạt động hợp tác với các tổ chức trong nước

Góp ý và phản biện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, chương trình và dự án phát triển của đất nước và địa phương theo yêu cầu của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, các bộ, địa phương và doanh nghiệp. Trong phạm vi Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Châu Âu phấn đấu trở thành đầu mối kết nối hoặc hỗ trợ các tổ chức, các viện nghiên cứu, hợp tác nghiên cứu với các tổ chức liên quan ở khu vực Châu Âu. Trong lĩnh vực hợp tác nghiên cứu và đào tạo về Châu Âu học cũng như trong tư vấn chính sách, Viện phấn đấu trở thành trung tâm cung cấp thông tin, kết nối hoặc điều phối hợp tác nghiên cứu với các tổ chức ở các nước trong khu vực Châu Âu. Ngoài ra, Viện sẽ tăng cường hợp tác với các cơ quan quản lý, tổ chức nghiên cứu, cơ sở đào tạo và địa phương trong nước trong phát hiện vấn đề nghiên cứu, triển khai thực hiện các dự án, đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu. Qua đó, gắn kết nhiệm vụ nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế của Viện với yêu cầu và nhiệm vụ phục vụ thực tiễn trong nước.

6. Về đào tạo và tư vấn

Hiện nay và trong thời gian tới, Viện kết hợp với Học viện Khoa học xã hội tổ chức đào tạo sau đại học chuyên ngành Châu Âu học. Ngoài ra, Viện và các cán bộ nghiên cứu của Viện sẽ tham gia phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao theo yêu cầu của cả nước, ngành, vùng, địa phương và doanh nghiệp; hợp tác nghiên cứu và liên kết đào tạo về Châu Âu học với các tổ chức quốc tế, các viện và trường đại học nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Viện tiếp tục thực hiện các hoạt động tư vấn đào tạo, tư vấn du học và mở rộng thêm các hoạt động tư vấn khác như tư vấn tìm dự án, đề tài nghiên cứu khoa học, cung cấp cho thông tin doanh nghiệp... 

7. Về hoạt động đoàn thể xã hội

Xây dựng khối đoàn kết thống nhất và đồng thuận giữa lãnh đạo Viện và các đoàn thể xã hội trong Viện; các thành viên sống và làm việc có trách nhiệm, trung thực, hợp tác, thi đua và tương thân, tương ái. Phát huy dân chủ và vai trò của các đoàn thể xã hội. Mỗi tổ chức xã hội và đoàn thể trong đơn vị hoạt động đúng pháp luật, đúng mục tiêu, tôn chỉ của mình.

8. Về cơ sở vật chất, kỹ thuật

Ngoài kinh phí do Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cấp từ ngân sách Nhà nước, Viện sẽ tìm kiếm các nguồn kinh phí khác từ việc thực hiện các hợp đồng nghiên cứu, đào tạo, tư vấn ở các cấp độ như đề tài, nhiệm vụ, dự án cấp Nhà nước, nghị định thư, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế. Quản lý, sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm, đúng mục đích tài sản và các khoản thu hoặc kinh phí được cấp.

Trang bị các phương tiện làm việc hiện đại, phục vụ tốt cho hoạt động nghiên cứu và phục vụ nghiên cứu như phòng làm việc, máy vi tính, hạ tầng mạng thông tin, v.v…

9. Về hoạt động của Tạp chí

Tạp chí sẽ mở rộng mạng lưới cộng tác viên để các bài đăng được phong phú hơn. Tạp chí tăng cường tham khảo kinh nghiệm của các tạp chí khác trong việc tăng nguồn kinh phí cho hoạt động của Tạp chí; tăng số lượng phát hành Tạp chí qua kênh các trường đại học.

Kiện toàn bộ máy tổ chức của Tạp chí, xây dựng đội ngũ cán bộ của Tạp chí có chuyên môn và kỹ năng biên tập đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới.

10. Về hoạt động xuất bản, công bố kết quả nghiên cứu

Công bố, xuất bản thành sách các sản phẩm của các đề tài, nhiệm vụ, dự án nghiên cứu cấp Nhà nước, nghị định thư, đề tài, nhiệm vụ, dự án được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia và các dự án hợp tác quốc tế. Khuyến khích các cán bộ Viện công bố các kết quả nghiên cứu của mình với yêu cầu tối thiểu là mỗi cán bộ nghiên cứu hằng năm phải công bố ít nhất một bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành.

11. Về công tác thông tin, tư liệu, thư viện

Tăng số lượng đầu sách, tạp chí và các tài liệu khác bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài về các lĩnh vực liên quan đến đối tượng, phạm vi nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của Viện. Thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu của thư viện. Các tài liệu, dữ liệu có thể được tra cứu trong mạng nội bộ và trên mạng internet. Kết nối thư viện của Viện với mạng lưới thư viện của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, thư viện quốc gia, thư viện địa phương và thư viện của các cơ sở nghiên cứu, đào tạo trong nước. 

Mở rộng việc khai thác các tài liệu dưới dạng số hóa. Ứng dụng và khai thác triệt để công nghệ thông tin trong công tác thông tin, tư liệu, thư viện.



Các tin đã đưa ngày: