HỘI THẢO KHOA HỌC: “CHÍNH SÁCH CỦA NGA VÀ SNG ĐỐI VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ TÁC ĐỘNG TỚI CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT NAM”

04/11/2020

Ngày 31/10/2020 tại Nghệ An, Viện Nghiên cứu Châu Âu, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã phối hợp với Khoa Luật, Đại học Vinh tổ chức hội thảo với chủ đề: “Chính sách của Nga và SNG đối với người nước ngoài và một số tác động tới Cộng đồng người Việt Nam trong khuôn khổ đề tài hợp tác về Khoa học và Công nghệ theo Nghị định thư: Cộng đồng người Việt Nam tại Liên bang Nga và SNG, Mã số: NĐT.72.RU/19. Tham dự Hội thảo, về phía đại diện Lãnh đạo tỉnh Nghệ An có: ông Trần Văn Mão - Phó trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An; ông Nguyễn Đức Thành, Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nghệ An, ông Trần Khánh Thục - Phó giám đốc phụ trách Sở Ngoại vụ Tỉnh Ủy Nghệ An, ông Nguyễn Hồng Kỳ - Phó chủ tịch Hội Liên hiệp tổ chức hữu nghị tỉnh Nghệ An, PGS.TS. Nguyễn Công Khanh - Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Nga tỉnh Nghệ An, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Phú - Hiệu trưởng Trường Đại học Y khoa Vinh; ông Hồ Xuân Hợp - Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Nghệ An…

Về phía Trường Đại học Vinh có GS.TS. Nguyễn Huy Bằng – Hiệu trưởng trường Đại học Vinh; TS. Trần Bá Tiến, Phó hiệu trưởng trường Đại học Vinh, TS. Đinh Ngọc Thắng – Trưởng Khoa Luật và TS. Đinh Văn Liêm – Phó trưởng Khoa Luật, Đại học Vinh. Hội thảo còn có sự hiện diện của các khách mời, TS. Nguyễn Minh Trí - nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ucraina, PGS.TS. Lê Thanh Bình - Học viện Ngoại giao, nguyên Tham tán Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Na Uy, PGS.TS. Nguyễn Cảnh Toàn - Đại học Thăng Long.

Về phía Viện Nghiên cứu Châu Âu có PGS.TS. Đặng Minh Đức – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Âu và PGS.TS. Nguyễn An Hà - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu cùng đông đảo các nhà nghiên cứu, giảng viên của hai bên.

Sau phát biểu chào mừng của đại diện Đại học Vinh - GS.TS. Nguyễn Văn Bằng - Hiệu trưởng Trường Đại học Vinh, PGS.TS. Đặng Minh Đức - đại diện Viện Nghiên cứu Châu Âu đã có phát biểu đề dẫn hội thảo. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cộng đồng không tách rời của dân tộc Việt Nam; Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm tới sự phát triển và đánh giá cao khả năng đóng góp của Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài vào sự phát triển của quê hương đất nước cũng như nước sở tại, coi đây là nguồn vốn quý báu cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Nghị quyết số 36 - NQ/TW của Bộ Chính trị ban hành ngày 26/3/2004 đã thể hiện bước đổi mới tư duy và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước tới người Việt Nam ở nước ngoài. Nhà nước Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước, đồng thời là cầu nối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam với các nước sở tại”.

Cộng đồng người Việt Nam ở tại Liên bang Nga (LB Nga) khoảng 100.000 người, trong đó số liệu được đăng ký chính thức của Nga với 26.205 người – là cộng đồng “dân tộc thiểu số” lớn thứ 72 ở Nga. Ngoài ra, số người Việt Nam sinh sống và làm việc ở các nước Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (SNG) khoảng 30.000 người, tập trung chủ yếu ở Ucraina (7.000 đến 10.000 người), Belarus (khoảng 1.000 người), Uzbekistan… Cộng đồng người Việt Nam được hình thành theo đường hợp tác lao động, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh và những người sang du học tự túc, đi du lịch, thăm thân rồi ở lại. Bên cạnh đó, trong những năm qua nhiều người Việt Nam đã ra sang lao động, học tập, tu nghiệp, đoàn tụ gia đình tại các nước này.

Cộng đồng người Việt Nam ở LB Nga và SNG chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực thương mại, đa số mở cửa hàng, buôn bán nhỏ, một số ít thành lập các doanh nghiệp lớn đầu tư sản xuất, may mặc, dịch vụ và xây dựng... Cộng đồng người Việt Nam ở Liên bang Nga và SNG có tinh thần yêu nước cao, hoà nhập tương đối tốt, luôn hướng về tổ quốc. Phần đông bà con ngày càng ổn định cuộc sống và hòa nhập vào xã hội nơi cư trú, có vị trí nhất định trong đời sống kinh tế, chính trị - xã hội ở nước sở tại, có tác động ở mức độ khác nhau tới mối quan hệ giữa các nước đó với Việt Nam.

Người Việt Nam thành đạt ở Nga và SNG đã trở về đầu tư trong nước và nhiều doanh nghiệp đã thành công góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, một số doanh nghiệp còn quay lại đầu tư làm ăn tại LB Nga, SNG trong thời gian qua.

Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người Việt Nam đang sinh sống ở LB Nga và SNG vẫn trong tình trạng cư trú ngắn hạn, chưa được định cư dài hạn, lâu dài hợp pháp, dễ rơi vào tình trạng cư trú bất hợp pháp, lao động và di cư trái phép, buôn bán phi pháp, tham gia các vụ buôn ma tuý, buôn người… đã làm ảnh hưởng không nhỏ tới Cộng đồng người Việt Nam đang làm ăn và sinh sống tại LB Nga và SNG.

Việc Việt Nam cùng Liên bang Nga, Belarus và các nước thuộc Liên minh Kinh tế Á - Âu chính thức triển khai FTA đang mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp, doanh nhân giữa hai bên, cũng như cộng đồng người Việt ở các nước này. Tuy nhiên, những khó khăn về kinh tế - xã hội của LB Nga trước những tác động của lệnh trừng phạt của Mỹ, EU và các nước phương Tây, cùng với những vấn đề nội tại như già hóa dân số, thiếu hụt lao động, vấn đề di dân, an ninh truyền thống và phi truyền thống… buộc Nga phải điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế của mình, hướng tới phát triển ngành công nghiệp nhẹ, nông nghiệp, dịch vụ... đang có những ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống của Cộng đồng người Việt Nam ở LB Nga.

Trong khi đó, Ucraina với những biến động sâu sắc từ khủng hoảng chính trị, kinh tế, sự chia rẽ sâu sắc giữa các vùng miền cũng như mâu thuẫn trầm trọng với Nga đang gây ra những hậu quả nặng nề và tác động mạnh tới đời sống, sinh hoạt, làm ăn của cộng đồng người Việt Nam tại nước này cũng như tại LB Nga vốn có mối quan hệ khăng khít với nhau.

Từ những thực trạng đó, Hội thảo chia thành hai phiên:

Phiên 1: “Chính sách của Nga đối với người nước ngoài và một số tác động tới Cộng đồng người Việt Nam”; chủ toạ PGS.TS. Đặng Minh Đức, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Âu và TS. Đinh Ngọc Thắng, Trưởng Khoa Luật - Đại học Vinh. Phiên 1 gồm các báo cáo: PGS.TS. Nguyễn Cảnh Toàn (Đại học Thăng Long): “Cộng đồng người Việt - Một bộ phận của xã hội Nga”; PGS.TS. Lê Thanh Bình (Học viện Ngoại giao): “Quan hệ đặc trưng gắn kết và hội nhập kinh tế - văn hoá - xã hội của cộng đồng người Việt Nam đối với nước sở tại”; Ths. Trần Thị Khánh Hà (Viện Nghiên cứu Châu Âu): “Sinh kế chợ của người Việt tại Matxcơva”. Các báo cáo đã làm rõ lịch sử hình thành và phát triển, quá trình hội nhập và những thách thức mà cộng đồng người Việt tại Nga phải đối mặt. Giữa Việt Nam và Nga đã có mối quan hệ trong lịch sử, ngay từ những năm 1920-1930, những nhà cách mạng Việt Nam đã có mặt ở Liên Xô trong phong trào Cộng sản quốc tế, các chiến sĩ Việt Nam đã có mặt trong đội ngũ Hồng quân bảo vệ thủ đô Matxcơva trong chiến tranh chống phát xít Đức. Từ năm 1973, số lượng người Việt Nam đến Nga học tập hàng năm lên tới trên 2.000 người. Từ 1980-1989, bên cạnh những sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, cán bộ các cấp sang học tập và nâng cao trình độ, còn có lao động Việt Nam sang làm việc tại Liên Xô. Theo số liệu của Dịch vụ Thống kê nhà nước Liên bang và Сơ quan Di trú LB Nga, giai đoạn đó thời điểm đỉnh cao có hơn 350.000 người Việt Nam ở Nga. Trong biến động lịch sử những năm 1989-1990, nhiều người Việt Nam đã lựa chọn ở lại nước Nga mới, hình thành một cộng đồng dân tộc thiểu số tại Nga. Đa số người Việt ở lại Nga kiếm sống bằng nghề bán buôn bán lẻ, kinh tế chợ đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng người Việt ở Nga và đã đóng góp nhiều cho cuộc sống và sự phát triển của cộng đồng dân cư sở tại. Vì nhiều lý do, đa số người Việt ở đây có tình trạng pháp lý không ổn định, do đó dù được đánh giá chăm chỉ, nhanh trí, sáng tạo và có những thích ứng nhanh chóng với xã hội sở tại và thực tế mới song chỉ một bộ phận nhỏ trong đó, những người nhanh nhạy, có tiếng Nga tốt, có trình độ và/hoặc hiểu biết đã hoà nhập nhanh chóng và dễ dàng hơn với xã hội của người Nga.

Cộng đồng người Việt Nam tại Nga chịu nhiều tác động từ các chính sách của Nga, từ những biến động kinh tế, chính trị, xã hội của Nga, từ khủng hoảng Ucraina năm 2014 và gần nhất là đại dịch Covid-19… Mặc dù tiến trình gắn kết, hội nhập vẫn đang diễn ra không ngừng nhưng vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại trong mối quan hệ Việt - Nga (nhất là các chính sách quản lý hộ khẩu, visa, định cư, thuế, chính sách đầu tư...), đòi hỏi một nỗ lực lớn đến từ cộng đồng và cả sự phối hợp tháo gỡ từ chính phủ hai nước để quá trình được thuận lợi trong tương lai.

Ở khía cạnh khác, Cộng đồng người Việt Nam tại Nga là một cộng đồng thiếu sự ổn định do làm ăn ngày càng nhiều khó khăn, tiềm lực sản xuất kinh doanh và thương mại cùng sự gắn kết… trên một số góc độ đã “hụt hơi” so với cộng đồng Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ và SNG. Mô hình kinh doanh “ốp”, “chợ” quen thuộc của người Việt Nam nơi đây ngày càng đã trở nên lỗi thời, kém hiệu quả và Nga xác định chấn chỉnh, loại bỏ mô hình chợ kiểu này hướng tới xây dựng các siêu thị và trung tâm thương mại hiện đại. Một cộng đồng khá đông trong hoạt động kinh doanh buôn bán, tuy có “doanh” nhưng rất ít có “nghiệp”. Buôn bán nhỏ lẻ, cá nhân, rất ít các công ty làm ăn thực sự bài bản, có vốn lớn và có ý định làm ăn lâu dài trong khi luật pháp, thị trường và xã hội Nga biến đổi nhanh chóng. Do đó, bà con người Việt kinh doanh tại Nga cần có những điều chỉnh thích ứng để phát triển phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới như thành lập doanh nghiệp, điều chỉnh mặt hàng…

Thực tế, bên cạnh những người Việt Nam thực sự hoà nhập và có quốc tịch, có tình trạng pháp lý ổn định tại Nga thì đa số khó hoà nhập và có nguy cơ lâm vào tình trạng nhập cư bất hợp pháp, lao động trái phép do nhiều nguyên nhân. Cộng đồng người Việt cần nghiêm túc rút kinh nghiệm việc hội nhập của mình, từ đó tô đậm phát triển quan hệ, đặc trưng nhất trong gắn kết, hội nhập kinh tế - văn hóa - xã hội của mình, giảm thiểu những bất đồng, thách thức khi hội nhập; mặt khác rất cần sự hỗ trợ của Chính phủ Việt Nam thông qua cơ quan đại diện là Đại sứ quán, Lãnh sự quán để cộng đồng người Việt Nam tại đây sinh sống, học tập, làm ăn ổn định hơn, hiệu quả hơn.

Phiên 2: “Chính sách của Ucraina đối với người nước ngoài và một số tác động tới Cộng đồng người Việt Nam”, do PGS.TS. Nguyễn An Hà - Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Châu Âu và PGS.TS. Nguyễn Cảnh Toàn đồng chủ toạ, gồm các tham luận: TS. Nguyễn Minh Trí (Bộ Ngoại giao, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Ucraina): “Cộng đồng người Việt Nam ở Ucraina: Quá trình hình thành và phát triển”; Ths. Phan Anh Dũng (Viện Nghiên cứu Châu Âu): “Luật định cư của Ucraina và tác động của nó đến cộng đồng người Việt Nam tại nước này”; Ths. Lê Thị Kim Oanh (Viện Nghiên cứu Châu Âu): “Một số điều chỉnh chính sách di cư của Ucraina”.

Cộng đồng người Việt Nam tại Ucraina hình thành những năm 60 - 80 thế kỷ XX. Nhìn chung, bên cạnh những người đã có quốc tịch (đa số vẫn tiếp tục giữa quốc tịch Việt Nam), hoặc đăng ký cư trú có thời hạn với sở tại, chủ yếu để có điều kiện sinh sống và làm ăn hợp pháp tại Ucraina, thì còn rất nhiều người không có giấy tờ cư trú hợp pháp tại Ucraina. Trong bất kỳ điều kiện nào, hợp pháp hóa giấy tờ, củng cố tư cách pháp lý để có thể sinh sống, cư trú và làm ăn hợp pháp tại Ucraina vẫn là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với người Việt. Cơ quan đại diện của Việt Nam tại Ucraina cùng các tổ chức trong cộng đồng đã nỗ lực tác động đến chính quyền Ucraina để người Việt có thể được nhận thẻ định cư lâu dài tại Ucraina. Đây có thể coi là thành tựu lớn của ngoại giao Việt Nam trong hỗ trợ bà con người Việt ở nước ngoài.

Cộng đồng người Việt Nam tại Ucraina có lực lượng nòng cốt chủ yếu là trí thức, sinh viên, lưu học sinh được đào tạo tốt tại Liên Xô cũ, các cán bộ lãnh đạo của các đơn vị học sinh học nghề và lao động trước đây, có hiểu biết sâu sắc về ngôn ngữ, văn hóa Ucraina, ngày càng mạnh lên về tiềm lực kinh tế, nhờ đó nâng cao hình ảnh, vị thế và có ảnh hưởng nhất định đối với chính quyền và người dân nước sở tại, ngày càng khẳng định vị trí và vai trò trong xã hội Ucraina; đồng thời có nhiều đóng góp cho việc củng cố và phát triển quan hệ truyền thống hữu nghị Việt Nam và Ucraina. Một số doanh nghiệp tương đối thành công trong hoạt động kinh doanh tại Ucraina, chuyển về nước và tiếp tục có đóng góp xứng đáng cho sự phát triển của đất nước.

Đánh giá chung là trong 15 quốc gia thuộc Liên bang Xô viết trước đây, Ucraina là một quốc gia thân thiện và cởi mở nhất với kiều dân Việt Nam. Chính quyền Ucraina đánh giá cao sự đóng góp đó và luôn tạo điều kiện cho cộng đồng ta sinh sống và làm việc. Sự thành công của người Việt trên đất nước Ucraina, ngoài sự nỗ lực của cộng đồng người Việt cũng như từng cá nhân, còn nhờ sự cởi mở thân thiện của người dân bản xứ cũng như chính sách pháp luật sơ tại đối với người nước ngoài. Bộ Luật Ucraina “Về tư cách pháp lý của người nước ngoài” là một minh chứng cụ thể, rất cởi mở và tiếp cận với luật pháp của Liên minh Châu Âu và các quốc gia phát triển.

Trong phần thảo luận, những nhà nghiên cứu, giảng viên, nhà quản lý từng sinh sống và làm việc tại Nga đã có thêm những ý kiến làm rõ về thực tại phát triển của cộng đồng người Việt tại Nga. Nước Nga có quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của người nước ngoài ở Nga. Quyền và nghĩa vụ của người Việt Nam tại Nga phụ thuộc vào tình trạng quan hệ Việt Nam - Nga. Về chính sách của Nga đối với người nhập cư nói chung hiện đã có nhiều thay đổi tạo điều kiện cho người nước ngoài hội nhập và xã hội sở tại như: người tạp trú ở Nga được 1 năm có quyền mua nhà, căn hộ; khi có giấy chứng nhận sở hữu căn hộ người nước ngoài có thể làm giấy tờ, thẻ định cư lâu dài, hộ chiếu (quyền và lợi ích gần giống người Nga nhưng k được bầu cử, ứng cử) khá dễ dàng. Từ năm 2014, chính sách về khu vực bán buôn, bán lẻ, mô hình “kinh tế chợ” có nhiều thay đổi, trong cộng đồng người Việt đã có những nhà đầu tư tiên phong vào sản xuất, lập doanh nghiệp tại Nga (với khoảng 100 doanh nghiệp); như vậy người Việt ở lại đã thay đổi tư duy và thích ứng với thời kỳ phát triển mới của nước sở tại. Con cái thế hệ đầu đã có quốc tịch Nga, gắn bó với nước Nga. Con em người Việt thời kỳ đầu (thế hệ thứ hai, thứ ba) đã trưởng thành, có tri thức, bằng cấp và tham gia vào nhiều lĩnh vực nghề nghiệp tại Nga như bác sĩ, kĩ sư, được luật pháp bảo trợ đã có nhiều đóng góp cho nước Nga và địa phương, đồng thời hỗ trợ tích cực cho cộng đồng Việt Nam ở đây.

Thông qua tìm hiểu, khảo sát thực tế cộng đồng người Việt Nam ở Nga và các nước SNG, đề tài sẽ làm rõ những lĩnh vực mà chúng ta đã làm tốt, làm được hay chưa làm được cho bà con kiều bào tại các nước này và cho quan hệ hai nước, đưa ra những đóng góp, giải pháp hỗ trợ nâng cao vị trí và vai trò của cộng đồng người Việt tại Nga, Ucraina, Belarus và các nước SNG dựa trên chính sách của hai bên, đồng thời có những thay đổi để nâng cao thực tế quan hệ với các nước, làm sâu sắc quan hệ giữa các địa phương kết nghĩa. Mặt khác, Hội thảo và đề tài nghiên cứu sẽ góp phần giúp Quốc hội Việt Nam tiếp cận, nắm được thông tin thực tế từ đó góp phần vào những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung luật pháp, chính sách đối ngoại đối với LB Nga và các nước SNG.

Những tham luận và các ý kiến thảo luận sôi nổi cho thấy bên cạnh những thành tựu đạt được, cộng đồng người Việt Nam tại Nga và SNG còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong hoà nhập và phát triển tại các nước, cần có những thay đổi, thích ứng. Bên cạnh đó, nhu cầu thực tế đòi hỏi cơ quan đại diện của Chính phủ Việt Nam tại các nước có sự hỗ trợ thêm đối với kiều bào Việt Nam. Kết quả thành công của Hội thảo này sẽ là tiền đề cho hội thảo tiếp theo trong năm 2021.

 


Trần Thị Khánh Hà


Các tin đã đưa ngày:
Quảng cáo